Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam mà còn là biểu tượng rạng ngời của ý chí quật cường và đạo đức cách mạng cao đẹp. Trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng mà còn là nhu cầu tự thân của mỗi cá nhân muốn hoàn thiện nhân cách.
Là một người khuyết tật, bản thân tôi luôn học tập tư tưởng đạo đức của Bác, đặc biệt quan tâm và ghi nhớ câu nói “Tàn nhưng không phế” của Người. Lời dạy của Bác được ra đời trong một bối cảnh lịch sử rất đặc biệt, gắn liền với giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và sự quan tâm sâu sắc của Bác đối với những người đã hy sinh xương máu cho Tổ quốc. Lời dạy này được Bác Hồ nhấn mạnh rõ nét nhất trong bài viết “Thương binh” đăng trên báo Nhân Dân, số 66, ngày 17/7/1952, Bác đã viết: “Thương binh là những người đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ Tổ quốc… Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách giúp đỡ họ… Về phần mình, thương binh phải cố gắng học tập, tăng gia sản xuất, để trở nên ‘Tàn nhưng không phế”. Đêm giao thừa Tết Bính Thân ngày 11/2/1956 tại Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội khi các anh em thương binh đang quây quần liên hoan văn nghệ đón giao thừa, Bác Hồ đã bất ngờ đến thăm. Tại buổi trò chuyện thân mật này, Bác đã ân cần dặn dò: “Tại mái trường này các chú đã được học chữ, học nghề để tiếp tục phục vụ nhân dân, như vậy các chú “Tàn nhưng không phế”. Câu nói “Tàn nhưng không phế” đã ra đời trong bối cảnh lịch sử đáng nhớ và trở nên phổ biến, có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất trong cộng đồng. Lời dạy đã trở thành một phương châm sống, một phong trào thi đua yêu nước mạnh mẽ trong toàn quân và toàn dân ta cho đến tận ngày nay. “Tàn nhưng không phế” là ngọn đuốc soi đường, giúp biết bao người khiếm thị tìm lại giá trị bản thân. Với tôi, lời dạy ấy không chỉ là phương châm sống mà còn là hành trang tinh thần theo suốt hành trình trưởng thành và cống hiến của tôi.
“Tàn” dùng để chỉ những khiếm khuyết về cơ thể, sức khỏe hoặc giác quan như khiếm thị, khiếm thính, hạn chế vận động… Đây là những thiệt thòi mà một số người phải đối mặt trong cuộc sống. Tuy nhiên, “không phế” lại mang ý nghĩa hoàn toàn tích cực đó là không vô dụng, không mất đi giá trị, vẫn có khả năng sống, học tập, lao động và cống hiến cho xã hội. Giá trị của mỗi người không nằm ở sự hoàn hảo về hình thể mà nằm ở ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó. Lời dạy của Bác mang trong mình nhiều giá trị sâu sắc. Câu nói thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, không phân biệt giữa người lành lặn và người khuyết tật. Mỗi người đều có quyền được sống, được học tập, được làm việc và được cống hiến. Đây là biểu hiện của một xã hội công bằng, nhân ái. Bên cạnh đó, câu nói còn có giá trị động viên, khích lệ rất lớn. Đối với người khuyết tật, đây là nguồn sức mạnh tinh thần giúp họ tự tin hơn vào bản thân, không mặc cảm, không tự ti, từ đó dám ước mơ và hành động để vươn lên. Đồng thời, lời dạy còn mang giá trị định hướng xã hội rõ rệt. Nó nhắc nhở mỗi người cần thay đổi nhận thức, biết quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập, thay vì kỳ thị hay xem họ là gánh nặng. Không chỉ dừng lại ở lý luận, câu nói còn có giá trị thực tiễn rõ ràng. Trong cuộc sống, có rất nhiều tấm gương người khuyết tật đã vượt lên số phận, có người khiếm thị trở thành giáo viên, nghệ sĩ, cán bộ hội; có người làm kinh tế giỏi, sống độc lập và đóng góp tích cực cho xã hội. Những minh chứng ấy đã khẳng định tính đúng đắn và sức sống của lời dạy.
Học tập lời dạy của bác, bản thân tôi đã rút ra những bài học sâu sắc đó là luôn tự tin vào chính mình, không tự ti hay mặc cảm vì những hạn chế. Mỗi người đều có giá trị riêng và cần tin tưởng vào điều đó. Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao kiến thức và kỹ năng, từ đó chúng ta sẽ có cơ hội phát triển một cách toàn diện. Quan trọng hơn cả là phải có ý chí vươn lên, không đầu hàng trước khó khăn, luôn kiên trì vượt qua thử thách để khẳng định bản thân. Sống có ích cho xã hội, tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng và biết giúp đỡ người khác.
Đối với tổ chức Hội Người Mù, lời dạy “Tàn nhưng không phế” càng có ý nghĩa thiết thực. Trong công tác hội cần tăng cường tuyên truyền để lan tỏa tinh thần tích cực này đến hội viên và cộng đồng, góp phần thay đổi nhận thức xã hội. Cần tạo điều kiện cho hội viên học tập và có việc làm thông qua việc mở các lớp dạy nghề, hỗ trợ việc làm và hướng nghiệp phù hợp. Bên cạnh đó, việc xây dựng một môi trường đoàn kết, gắn bó là rất quan trọng, giúp hội viên hỗ trợ lẫn nhau, cùng tiến bộ và không ai bị bỏ lại phía sau. Hội cũng cần phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến, tôn vinh các tấm gương vượt khó để truyền cảm hứng. Bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật thông qua việc kiến nghị chính sách, đảm bảo quyền được học tập, làm việc và hòa nhập cộng đồng giúp người khiếm thị có điều kiện tự nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội.
Chia sẻ những cảm xúc của bản thân tôi đối với lời dạy “Tàn nhưng không phế” của Bác là một quá trình dài mà tôi không thể nào quên. Tuổi hai mươi, độ tuổi đẹp nhất của đời người với bao khát vọng học tập và cống hiến. Tôi đã nỗ lực để trở thành một thầy giáo giảng dạy bộ môn Lịch sử. Nhưng chính lúc này căn bệnh hiểm nghèo đã ập đến và cướp đi đôi mắt của tôi biến tôi trở thành người bị mù hoàn toàn. Những ngày đầu mất đi thị lực tôi phải học cách chấp nhận một thực tế hoàn toàn khác với trước đây. Từ một người quen với việc quan sát mọi thứ bằng mắt, tôi phải tập sống bằng xúc giác, thính giác và trí tưởng tượng. Có những đêm dài tôi trăn trở, tự hỏi tương lai mình sẽ đi về đâu. Nỗi sợ lớn nhất không phải là bóng tối, mà là cảm giác bản thân trở nên vô dụng, không thể tự chăm sóc mình và không thể giúp đỡ gia đình. Chính trong giai đoạn khó khăn ấy lời dạy của Bác “Tàn nhưng không phế” lại văng vẳng bên tai. Tôi có thể “Tàn” có thể bị những khiếm khuyết về cơ thể, mất đi ánh sáng của đôi mắt nhưng tôi không “Phế”, không thể là con người bỏ đi và vô dụng, đầu hàng số phận. Thấm nhuần lời dạy của Bác, vượt lên nghịch cảnh, tôi hiểu rằng khiếm khuyết của bản thân không đồng nghĩa với việc chấm dứt giá trị con người. Tôi không cho phép mình “tàn phế” về tâm hồn, ý chí và năng lực đóng góp cho xã hội.
Hành động thiết thực của bản thân để học tập theo lời dạy của Bác được tôi bắt đầu bằng việc làm quen với chữ Braille. Từ đây, việc học tập của tôi lại bắt đầu một trang mới, khó khăn và nhiều thách thức hơn. Ngồi lần sờ từng trang chữ nổi, chấm từng dấu chấm ngập ngừng tôi đã nghĩ về Bác, Bác đã tiếp thêm nghị lực cho tôi cố gắng để viết tiếp ước mơ trở thành thầy giáo khiếm thị. Học tập ở Bác lòng kiên trì, ham học, tôi đã sử dụng thành thạo chữ nổi, công nghệ thông tin và một lần nữa tôi đã học, đã thi đậu rồi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội chuyên ngành Giáo dục đặc biệt, được trở về làm thầy giáo khiếm thị. Có thể nói trên con đường học tập không bằng phẳng của mình, tôi đã học tập Bác, noi gương Bác để vươn lên. Tiếp nối con đường học tập không ngừng của Người, tôi vẫn ngày ngày cố gắng học tập những điều bổ ích, phấn đấu và được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Noi theo gương Bác là mục đích, lí tưởng của tôi.
Tại Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Đà Nẵng, công việc của tôi không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là đồng hành, nâng đỡ tinh thần cho học sinh. Tôi luôn thấu hiểu những lo lắng, mặc cảm của các em khi bước vào môi trường học tập. Bởi vậy, tôi không chỉ dạy các em cách đọc, cách viết mà còn dạy các em cách tin vào chính mình. Tôi nhớ mãi một học sinh lớp một khi mới vào trung tâm. Em rất rụt rè, gần như không giao tiếp với thầy cô giáo và bạn bè. Những buổi học đầu tiên, em chỉ ngồi lặng lẽ, bàn tay run run khi chạm vào bảng chữ Braille. Tôi kiên nhẫn hướng dẫn từng dấu chấm, từng nét chữ. Sau một thời gian, em đã có thể đọc được những câu văn đầu tiên. Khi nghe em đọc, giọng còn ngập ngừng nhưng đầy tự hào, tôi cảm thấy như mình vừa thắp lên một ngọn lửa nhỏ trong tâm hồn em. Khoảnh khắc ấy khiến tôi hiểu rằng công việc của mình không chỉ giúp học sinh tiếp cận tri thức mà còn giúp các em tìm lại niềm tin vào cuộc sống. Những thay đổi ấy không chỉ giúp các em tự tin hơn mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh tích cực của người khiếm thị trong xã hội. Lời dạy của Bác là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, chứa đựng triết lý nhân văn sâu sắc. Bác Hồ đã khẳng định rằng khiếm khuyết về thể chất không thể làm mất đi giá trị con người. Điều quan trọng là mỗi người phải biết vượt lên hoàn cảnh, phát huy năng lực và sống có ích.
Song song với công tác giáo dục, tôi luôn tích cực tham gia công tác hội. Với vai trò Chi hội trưởng, tôi nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc kết nối hội viên và xây dựng môi trường sinh hoạt đoàn kết, sẻ chia. Tôi thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt, trao đổi kinh nghiệm sống và động viên hội viên vượt qua mặc cảm. Mỗi khi nhìn thấy hội viên mạnh dạn tham gia hoạt động văn hóa, thể thao hay học nghề, tôi cảm thấy vô cùng xúc động. Tôi đã không ngừng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Quan tâm, sâu sát, ân cần giúp đỡ hội viên vượt lên nghịch cảnh, cố gắng vươn lên học tập, chiếm lĩnh tri thức để hoà nhập cộng đồng, trở thành người có ích. Tôi đã lãnh đạo Chi hội người mù của Trung tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhiều năm liền. Chi hội người mù được cấp trên ghi nhận và khen thưởng nhiều Giấy khen, Bằng khen. Các hội viên phấn khởi thi đua học tập, rèn luyện đạo đức theo gương Bác và nhiệt tình trong công tác hội.
Đối với tôi, lời dạy ấy giống như ngọn lửa soi sáng mỗi khi tôi gặp khó khăn. Nó giúp tôi hiểu rằng khiếm thị không phải là dấu chấm hết mà chỉ là thử thách để tôi rèn luyện bản lĩnh và nghị lực. Đối với tổ chức Hội, lời dạy của Bác là nền tảng để xây dựng các hoạt động hỗ trợ hội viên phát triển toàn diện, từ học nghề, tạo việc làm đến nâng cao đời sống tinh thần. Khát vọng lan tỏa nghị lực sống từ trải nghiệm của bản thân, tôi nhận ra rằng điều người khiếm thị cần nhất không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là niềm tin vào chính mình. Khi có niềm tin, họ sẽ có động lực để vượt qua khó khăn và khẳng định giá trị bản thân. Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và tích cực tham gia hoạt động Hội. Trong nhiều năm làm công tác giảng dạy tôi đã đạt được nhiều thành tích, được các cấp khen tặng Giấy khen, Bằng khen, chứng nhận chiến sĩ thi đua… Tôi mong muốn góp phần tạo thêm nhiều cơ hội học tập, việc làm cho người khiếm thị, giúp họ tự tin hòa nhập cộng đồng.

NHỮNG CỐ GẮNG TRONG HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN

GIẤY CHỨNG NHẬN CHIẾN SĨ THI ĐUA CƠ SỞ

BẰNG KHEN CỦA HỘI NGƯỜI MÙ VIỆT NAM

GIẤY KHEN CỦA HỘI NGƯỜI MÙ THÀNH PHỐ ĐẴNG VÀ CỦA GIÁM ĐỐC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ ĐẴNG

HÌNH ẢNH TÔI ĐANG DẠY HỌC SINH HỌC TẬP TẠI TRUNG TÂM

BẰNG KHEN CỦA UỶ BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ BẰNG KHEN CỦA CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHEN TẶNG CHI HỘI

BẰNG KHEN CỦA HỘI NGƯỜI MÙ VIỆT NAM KHEN TẶNG CHI HỘI

GIA ĐÌNH NHỎ CUẢ TÔI
Cuộc sống có thể không cho người khiếm thị nhìn thấy ánh mặt trời, nhưng lại cho họ cơ hội thắp lên ánh sáng từ nghị lực và niềm tin. Hành trình của tôi vẫn đang tiếp tục, với những thử thách phía trước. Nhưng tôi luôn tin rằng, chỉ cần giữ vững niềm tin và ý chí, con người có thể vượt qua mọi giới hạn. Lời dạy “Tàn nhưng không phế” của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi là ngọn lửa soi đường, giúp tôi và nhiều người khiếm thị vững bước trên hành trình sống, học tập và hoà nhập cộng đồng.







Lượt truy cập hôm nay : 995
Tổng lượt truy cập : 1454104
Đang truy cập : 1